Đòi nợ không trả nên tố cáo hay khởi kiện dân sự?

Mục lục

Có rất nhiều bạn thắc mắc đặt câu hỏi đó là, khi chúng ta đòi nợ mà người vay đến hạn không trả tiền thì nên tố cáo ra công an hay khởi kiện vụ án dân sự? Bởi vì, trong thực tế có rất nhiều trường hợp chúng ta viết đơn tố cáo ra công an, công an trả lời đây là tranh chấp dân sự và hướng dẫn khởi kiện tại toà án. Điều này khiến chúng ta mất rất nhiều thời gian. Hoặc có nhiều trường hợp chúng ta thấy rất rõ dấu hiệu tội phạm nhưng cơ quan chức năng vẫn không giải quyết và cho rằng đây là tranh chấp dân sự thì các chúng ta cần làm gì?

Theo quy định tại điều Điều 463, Bộ luật dân sự 2015, Bản chất vay mượn là giao dịch dân sự nên phần đa các trường hợp tranh chấp xảy ra sẽ giải quyết bằng một vụ kiện dân sự. Tuy nhiên, có 02 trường hợp các bạn có thể gửi đơn tố cáo người vay đến cơ quan công an.

  1. Hành vi của người vay có dấu hiệu của tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

Hành vi này thể hiện ở dấu hiệu: ngay từ ban đầu người vay tiền không có ý định vay tiền thật mà đưa ra thông tin, lý do sai sự thật mục đích là để chiếm đoạt tài sản. Ví dụ: để làm tin cho việc vay tiền họ đưa cho chúng ta sổ đỏ, cà vẹt xe hay là một giấy tờ có giá nhưng giấy tờ này lại là giấy tờ giả.

  1. Hành vi của người vay có dấu hiệu tội “lạm dung tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”

Hành vi này thể hiện ở dấu hiệu: Sau khi nhận được tiền vay thì mới bắt đầu phát sinh mục đích và hành vi chiếm đoạt, cụ thể:

  • Dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt: Thủ đoạn gian dối thể hiện ở chỗ, ví dụ: người đi vay ban đầu mục đích vay là đáo hạn ngân hàng nhưng sau khi nhận tiền họ không dùng vào mục đích vay tiền mà bằng phương thức nào đó họ sử dụng số tiền này sai mục đích và chiếm đoạt luôn số tiền này; Bỏ trốn thể hiện ở chỗ sau khi họ vay tiền họ trốn khỏi địa phương, cắt hết mọi liên lạc mục đích là không trả số tiền vay.
  • Có điều kiện, có khả năng nhưng cố tình không trả. Thể hiện ở dấu hiệu: Người vay có tài sản như có nhà, có xe…nhưng họ tấu tán các tài sản này và cố tình chiếm đoạt không trả nợ.
  • Dùng tiền vay vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến mất khả năng trả nợ. Thể hiện ở dấu hiệu: Người vay sử dụng tiền vay vào đánh bạc, chơi lô đề, kinh doanh tiền ảo không được pháp luật cho phép…dẫn đến mất khả năng thanh toán nợ

Một vấn đề cần hết sức lưu ý:

  • Khi các bạn làm đơn tố cáo thì trong đơn phải nêu rõ và phân tích được dấu hiệu hành vi phạm tội: Hành vi gian dối, lạm dụng được thực hiện như thế nào, thủ đoạn ra sao? dùng tiền vào mục đích bất hợp pháp là sử dụng cụ thể vào việc gì? Bên cạnh đó cần đưa ra các tài liệu, chứng cứ chứng minh để cơ quan công an có cơ sở xem xét, giải quyết.
  • Trường hợp tất cả các nội dung tố cáo đã được trình bày, thể hiện rõ ràng, các chứng cứ kèm theo đã đầy đủ nhưng Cơ quan cảnh sát điều tra vẫn có văn bản trả lời ko có dấu hiệu hình sự và hướng dẫn các bạn khởi kiện dân sự, lúc này các bạn có quyền khiếu nại đến những người có thẩm quyền hoặc cơ quan cấp trên để yêu cầu xem xét lại vụ việc.

Căn cứ pháp lý:

Điều 463, Bộ luật dân sự 2015. Hợp đồng vay tài sản

Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.

Điều 174, BLHS 2015, SĐBS 2017. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
    • Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
    • Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
    • Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
    • Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.
  2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
    • Có tổ chức;
    • Có tính chất chuyên nghiệp;
    • Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
    • Tái phạm nguy hiểm;
    • Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
    • Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
    • Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này.
  3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
    • Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
    • Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;
    • Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
  4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
    • Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
    • Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;
    • Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
  5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Điều 175 BLHS 2015, SĐBS 2017. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  1. Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
    • Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;
    • Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản;
  2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
    • Có tổ chức;
    • Có tính chất chuyên nghiệp;
    • Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
    • Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
    • Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
    • Tái phạm nguy hiểm;
  3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:
    • Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
    • Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
  4. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.
  5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
2/5 - (3 bình chọn)

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

0977 444 458Gửi Tin Nhắn SMSNhắn Tin ZaloNhắn Tin Messenger